Là một kim loại nặng rất thường gặp trong cuộc sống của chúng ta, thủy ngân xuất hiện trong nhiệt kế, bóng đèn,… Chúng ta hoàn toàn có thể đối mặt với nguy cơ nhiễm độc thủy ngân. Vậy xử lý thế nào nếu bị nhiễm độc thủy ngân? Tác hại của thủy ngân là gì?

Thủy ngân là gì?

Thủy ngân là kim loại nặng, trong điều kiện bình thường về nhiệt độ và áp suất thì đây là kim loại duy nhất ở thể lỏng. Thủy ngân nguyên tố, muối và hợp chất của nó cực độc. Nó nguyên nhân gây ra tổn thương qua đường hô hấp, tiếp xúc hay nuốt phải.

Tác hại tới sức khỏe con người

Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác hại của thủy ngân với con người. Có hai dạng ngộ độc thủy ngân là ngộ độc mạn tính và ngộ độc cấp tính.

+ Gây tổn thương ở phổi: Nó có thể bị bay hơi qua các hoạt động như đốt rác, cháy rừng, , các nhà máy điện chạy bằng than đá,…nếu bị phát tán vào không khí, khiến chúng ta dễ bị hít phải và gây tổn thương phổi.

+ Có thể gây dị dạng thai nhi: Nếu có thể tiếp xúc với thủy ngân, nó được hấp thụ vào máu và phân phối tới mọi mô trong cơ thể, thậm chí cả não và truyền qua nhau thai, gây dị tật cho thai nhi.

+ Chứng minatama do nhiễm độc thủy ngân: là bệnh do thủy ngân xâm nhập vào hệ nội tiết và thần kinh trung ương, nghiêm trọng có thể bị tê liệt hoặc chứng điên cuồng, rồi hôn mê và sau cùng là tử vong.

Ngộ độc thủy ngân mạn tính là trường hợp tiếp xúc với thủy ngân trong thời gian dài, dẫn đến mất khả năng điều hòa vận động, run rẩy, hay quên, mất ngủ, căng thẳng tâm lý, thay đổi tính cách, đau đầu,… Khi một người tiếp xúc với không khí mà ở đó nồng độ thủy ngân cao hơn 50 microgram/m3 thì các triệu chứng trên sẽ xuất hiện.

Bên cạnh đó, con người cũng có thể bị nhiễm độc thủy ngân qua đường tiêu hóa, như khi ăn hải sản, nhất là những loài cá như cá kiếm, cá mập, cá vược,… Do trong những loại cá này chứa MeHg cao – một hợp chất hữu cơ của thủy ngân, chúng rất độc và thể ngấm vào cơ thể khi ăn phải.

Dấu hiệu khi bị nhiễm độc thủy ngân

Thủy ngân nguyên tố hay thủy ngân vô cơ, khi hít hay nuốt phải có thể bị ngộ độc cấp, còn khi tiếp xúc với dạng thủy ngân hữu cơ có nguy cơ bị ngộ độc mạn.

Nếu hít phải thủy ngân có thể gây bệnh phổi nặng, diễn biến cấp tính. Dấu hiệu đầu tiên xuất hiện là ớn lạnh, sốt, khó thở. Đi kèm các triệu chứng khác như: nôn ói, viêm miệng, co giật,…

Các triệu chứng có thể giảm sau 1 tuần nhưng đôi khi bệnh không thuyên giảm mà còn gây suy hô hấp và tử vong.

Nếu nuốt phải thủy ngân vô cơ, nạn nhân có những biểu hiện tổn thương ở đường tiêu hóa như: buồn nôn, nôn ra máu, đau bụng, bỏng tróc niêm mạc miệng. Không được cấp cứu điều trị kịp thời, thủy ngân sẽ hoại tử ống thận cấp, có thể tử vong sau vài ngày.

Còn khi hít phải thủy ngân hữu cơ, nạn nhân có những biểu hiện điển hình như: run giật tay, viêm lợi, chảy nước miếng, rối loạn thần kinh. Trường hợp trẻ em thì có những bất thường về tâm thần như mất ngủ, kém ăn, hay quên, rối loạn tâm lý.

Trường hợp, nạn nhân ngộ độc thủy ngân hữu cơ vì ăn cá biển hay thực phẩm chứa thủy ngân thì trải qua quá trình tích tụ thủy ngân khá lâu, nên những dấu hiệu ngộ độc xuất hiện muộn, có thể sau nhiều ngày hoặc nhiều tuần. Vì thủy ngân có thể qua nhau thai, ảnh hưởng đến thai nhi, nếu mẹ ăn nhiều cá biển có thể dẫn đến sảy thai, khuyết tật thần kinh thai nhi, bại não biến dạng cho thai nhi,…

Xử lý khi có dấu hiệu nhiễm độc thủy ngân

Nếu có các dấu hiệu nhiễm độc thủy ngân, bạn cần có các biện pháp xử lý kịp thời nếu không muốn nguy hiểm tính mạng cũng như các ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

+ Nếu nhiễm độc qua đường hô hấp, cần nhanh chóng đưa bệnh nhân ra khỏi vùng ô nhiễm, loại bỏ quần áo nhanh chóng. Nếu trên mắt hay da có dính thủy ngân thì phải rửa bằng nhiều nước sạch, rồi nhanh chóng đưa bệnh nhân tới cơ sở y tế gần nhất để điều trị với pháp đồ phù hợp, hạn chế các biến chứng nguy hiểm.

+ Nếu ngộ độc do nuốt phải thủy ngân thì không được gây nôn, không rửa dạ dày, bởi có thể dẫn đến nguy cơ thủng dạ dày và thực quản. Trong trường hợp này cũng không được sử dụng than hoạt tính do không có tác dụng hấp phụ kim loại.

+ Còn khi bị ngộ độc thủy ngân vô cơ, bệnh nhân mạch cần được truyền dịch để ngăn ngừa nguy cơ trụy tim mạch. Đặt nội khí quản cũng được áp dụng nhằm hạn chế tắc nghẽn đường hô hấp khi niêm mạc hầu họng bị tổn thương gây phù nề. Nếu có sự chuyển đổi thủy ngân hữu cơ thành vô cơ, các triệu chứng toàn thân sẽ xuất hiện, lúc này cần dùng thuốc giải độc đặc hiệu ngay.